ĐỊA CHỈ TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH TỈNH CAO BẰNG         

+84 09.19.19.59.39

Họ tên: NGUYỄN THÀNH TỰU

Chức danh: Thạc sĩ - Luật sư - Trọng Tài Thương Mại - CEO

Điện thoại: +84 09.19.19.59.39

Email: tuulawyer@nvcs.vn

Lĩnh vực tư vấn: Đầu Tư Nước ngoài- Sở hữu Trí tuệ -M&A- Tranh chấp tại tòa.

Ngôn ngữ: Tiếng Việt - tiếng Anh

              

 

 

1. ĐỊA CHỈ TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH

Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình tại: Thị trấn Nguyên Bình, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.

2. CÁC GIẤY TỜ/ TÀI LIỆU CẦN CHUẨN BỊ KHI ĐẾN TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH

  • Đối với nguyên đơn (người đi kiện)

- Mang theo CMND/ CCCD (sao y bản chính)

- Các giấy tờ, hồ sơ, chứng từ có liên quan đến vụ án tranh chấp (hóa đơn, chứng từ, hợp đồng, biên bản xác nhận công nợ, sao kê ngân hàng liên quan đến giao dịch,…) 

(Lưu ý: Toàn bộ hồ sơ này phải được công chứng hoặc mang bản chính theo)

  • Đối với bị đơn (người bị kiện)

- Mang theo CMND/CCCD 

- Các giấy tờ, hồ sơ, chứng cứ mà tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng gửi cho người bị kiện.

* Ví dụ đối với vụ án về tranh chấp nhà ở, hồ sơ cần chuẩn bị gồm các giấy tờ sau:

  • Đối với nguyên đơn (người đi kiện): 

+ Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà. Trong trường hợp chưa có Giấy chứng nhận quyền sở hữu thì cần có các giấy tờ xác nhận chủ quyền  nhà;

+ Các giấy tờ liên quan đến giao dịch nhà ở có tranh chấp như: Giấy cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ, mua bán hoặc những giấy tờ khác thể hiện có quan hệ này;

+ Các giấy tờ, tài liệu của cơ quan có thẩm quyền về việc giải quyết nhà đang có tranh chấp (nếu có).

  • Đối với bị đơn (người bị kiện):

+ Giấy tờ tùy thân (CMND/CCCD,...);

+ Các tài liệu, minh chứng có liên quan đến vụ kiện để bảo vệ quyền, lợi ích của của bản thân.

3. HÌNH ẢNH TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH

 

hinh-anh-toa-an-nhan-dan-huyen-nguyen-binh

toa-an-nhan-dan-huyen-nguyen-binh

 

4. THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH

  • Thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự của TAND huyện Nguyên Bình:

Theo khoản 1 Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm như sau:

Điều 268 quy định về “Thẩm quyền xét xử của Tòa án”

1. Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm:

– Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

– Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

– Các Tội giết người, Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Điều 125, Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội Điều 126, 

+Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên Điều 227, 

+Tội vi phạm quy định điều khiển tàu bay Điều 277,

 +Tội cản trở giao thông đường không Điều 278, Tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường không không bảo đảm an toàn Điều 279, Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường không Điều 280,

Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước Điều 337,

+ Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội Điều 368, Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội Điều 369,

+ Tội ra bản án trái pháp luật Điều 370, Tội ra quyết định trái pháp luật Điều 371,

+ Tội đầu hàng địch Điều 399 và Tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh Điều 400 của Bộ luật hình sự;

Theo quy định trên, Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình cũng như các Tòa án nhân dân cấp quận, huyện khác có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những tội phạm mà Bộ luật hình sự 2015 quy định hình phạt từ 15 năm tù trở xuống, trừ những tội quy định tại điểm nêu trên Điều 268 BLTTHS 2015.

  • Theo quy định tại Điều 35 BLTTDS 2015, Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình cũng như các Tòa án nhân dân cấp quận, huyện khác có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp, vụ việc dân sự không có yếu tố nước ngoài sau:

+ Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 BLTTDS 2015, trừ những tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh hoặc trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính

+ Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận

+ Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của BLTTDS 2015.

  • Cũng như các Tòa án nhân dân cấp quận, huyện khác, Tòa án huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng có thẩm quyền giải quyết các vụ việc hành chính như sau:

+ Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đó, trừ quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.

+ Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án đối với công chức thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó.

+ Khiếu kiện danh sách cử tri của cơ quan lập danh sách cử tri trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án.

5. CÁC LƯU Ý KHI ĐẾN TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH

- Người tham gia phiên tòa theo yêu cầu của Tòa án phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, các giấy tờ có liên quan khác cho Thư ký phiên tòa tại bàn thư ký chậm nhất là 15 phút, trước giờ khai mạc phiên tòa và ngồi đúng vị trí trong phòng xử án theo hướng dẫn của Thư ký phiên tòa; trường hợp đến muộn thì phải xuất trình giấy triệu tập, giấy mời, các giấy tờ có liên quan khác cho Thư ký phiên tòa thông qua lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.

- Mọi người trong phòng xử án phải mặc quần áo nghiêm túc; có thái độ tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ trật tự, không nói chuyện riêng và tuân theo sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa.

- Chỉ những người được Hội đồng xét xử cho phép mới được hỏi, trả lời hoặc phát biểu. Người hỏi, trả lời hoặc phát biểu phải đứng dậy, trừ trường hợp vì lý do sức khỏe được Chủ tọa phiên tòa cho phép ngồi để hỏi, trả lời hoặc phát biểu.

- Khi vào phòng xử án, mọi người đều phải chấp hành việc kiểm tra an ninh của lực lượng có trách nhiệm bảo vệ phiên tòa.

- Nghiêm cấm mang vũ khí, hung khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, đồ vật cấm lưu hành, truyền đơn, khẩu hiệu và tài liệu, đồ vật khác ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của phiên tòa vào phòng xử án, trừ vật chứng của vụ án phục vụ cho công tác xét xử hoặc vũ khí, công cụ hỗ trợ được người có thẩm quyền mang theo để làm nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa.

- Người vi phạm nội quy phòng xử án thì tùy trường hợp có thể bị Chủ tọa phiên tòa cảnh cáo, phạt tiền, buộc rời khỏi phòng xử án, bị bắt giữ hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

6. CÁC VỤ/ VIỆC MÀ TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH THỤ LÝ

  • Vụ án hình sự về tội sản xuất trái phép chất ma túy (Ngày 23/02/2022)

Ngày 12/10/2021, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nguyên Bình tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trịnh Tòn Phấy, sinh năm 1994, trú tại M, T, Nguyên Bình, Cao Bằng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (hiện nay Phấy đang bị điều tra, xử lý trong một vụ án ma túy khác). Quá trình khám xét chỗ ở của Phấy có tài liệu xác định được đối tượng Trịnh Tạ P, sinh năm 1982 trú tại xóm M, T, Nguyên Bình, Cao Bằng (là anh trai ruột của Trịnh Tòn P3) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (nhựa thuốc phiện) nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nguyên Bình đã vận động, thuyết phục đối tượng P ra đầu thú. Ngày 13/10/2021, Trịnh Tạ P tự nguyện ra trình diện, khai báo với Công an huyện Nguyên Bình về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (nhựa thuốc phiện) của mình. Trịnh Tạ P giao nộp: Bảy gói nhỏ được gói bằng nilon màu trắng, bên trong có chất dẻo màu đen. Công an huyện Nguyên Bình đã lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú và thu giữ các vật chứng có liên quan. Trịnh Tạ P khai số chất dẻo màu đen P giao nộp là nhựa thuốc phiện, số nhựa thuốc phiện này do P và Triệu Văn T1, sinh năm 1979, trú tại M, T, Nguyên Bình cùng nhau gieo hạt trồng từ tháng 09/2020 (Âm lịch) tại đỉnh núi gần nhà của P, đến khoảng tháng 02/2021 (Âm lịch) thì P cùng T1 lên thu hoạch nhựa và được số lượng bảy gói nhỏ như P đã giao nộp.

*Quyết định của Tòa:

1. Về tội danh: Căn cứ Điều 248 của Bộ luật hình sự tuyên bố các bị cáo Trịnh Tạ P và Triệu Văn T1 phạm tội “Sản xuất trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

- Căn cứ khoản 1 Điều 248; Điều 17; Điều 58; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trịnh Tạ P 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 13/10/2021.

- Căn cứ khoản 1 Điều 248; Điều 17; Điều 58; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Triệu Văn T1 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/10/2021.

  • Vụ án hôn nhân gia đình về tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản, thanh toán nợ chung (Ngày 23/09/2022)

- Về quan hệ hôn nhân: Chị C chung sống với anh Triệu Chòi L từ năm 2000, do bố mẹ hai bên sắp đặt hỏi cưới, trên cơ sở tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi về chung sống, vợ chồng hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ở nhà không có tiền nên chị C đi làm thuê kiếm tiền. Anh L ở nhà không tu chí làm ăn, thường xuyên uống rượu, chị C về thì đánh đập, đuổi chị C ra khỏi nhà. Sự việc đã được vợ chồng, hai bên gia đình hòa giải nhưng không đạt kết quả, chị C đã về nhà mẹ đẻ sống từ 2019 đến nay. Hiện tại, chị C nhận thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, không còn khả năng khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được, chị C yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn.

- Về con chung: Chị Đặng Mùi C xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Triệu Tạ Pu, sinh ngày 27/3/2003 và Triệu Tạ Chán, sinh ngày 08/9/2005. Cháu Pu trên 18 tuổi, đã lập gia đình và đang sống với anh L tại xóm N, xã C1, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Cháu Chán đang sống với chị C, chị C tiếp tục nuôi cháu Chán cho đến khi tròn 18 tuổi và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

- Về chia tài sản chung: Quá trình chung sống, chị C và anh L tạo dựng được một số tài sản chung, chị C yêu cầu chia tài sản chung như sau:

+ Ruộng đất: Đối với ruộng đất chị C và anh L được bố mẹ chồng chia cho chị C để lại cho chồng và con trai là Triệu Tạ Pu không yêu cầu gì. Đối với ruộng đất mà chị C có công san gạt, cải tạo chị C yêu cầu được chia đôi bao gồm thửa đất số 33 tờ bản đồ số 200 và thửa ruộng ở gần nhà.

+ Ngôi nhà gỗ: Sau khi kết hôn, hai vợ chồng làm được một ngôi nhà gỗ trên đất của bố mẹ chồng tại xóm N, xã C1, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Đối với đất, chị C không yêu cầu gì. Chị C yêu cầu chia đôi giá trị ngôi nhà. Hiện nay, anh L đang sống tại ngôi nhà đó nên chị C đồng ý để anh L tiếp tục quản lý, sử dụng và thanh toán tiền chênh lệch giá trị ngôi nhà cho chị C.

+ Chiếc máy cày: Hai vợ chồng mua được một chiếc máy cày vào năm 2018. Chị C yêu cầu được chia đôi giá trị chiếc máy cày, để anh L tiếp tục quản lý sử dụng chiếc máy cày và thanh toán tiền chênh lệch cho chị C.

+ 04 con bò: Hai vợ chồng có 06 con bò, tuy nhiên trong thời gian chị C không ở nhà, anh L đán bán 02 con, còn 04 con chị C yêu cầu được chia 02 con là con bò đực và con bê cái.

- Về tài sản riêng: Khi chung sống với anh L, chị C đi làm thuê kiếm tiền và tự mua được một bộ vòng bạc. Hiện nay, anh L đang cất giữ. Chị C yêu cầu anh L trả lại bộ vòng bạc trên cho chị C.

- Về nợ chung: Năm 2019, chị C vay Ngân hàng C2 số tiền vay 50.000.000,đ (Năm mươi triệu đồng). Sau khi vay, chị C cho mẹ đẻ là bà Triệu Mùi N2 vay lại số tiền 25.000.000,đ (Hai mươi lăm triệu đồng), số tiền còn lại chị C sử dụng để chuẩn bị lấy vợ cho con trai là Triệu Tạ Pu. Do đó, Chị C yêu cầu anh L có trách nhiệm cùng chị C thanh toán số tiền 25.000.000,đ (Hai mươi lăm triệu đồng) cho ngân hàng chính sách, số tiền chị C đã cho bà N2 vay bà N2 có trách nhiệm trả lại cho chị C để bà C thanh toán cho ngân hàng.

*Quyết định của Tòa:

 1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Đặng Mùi C và anh Triệu Chòi L là vợ chồng.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Đặng Mùi C và anh Triệu Chòi L về nuôi con chung như sau: Chị Đặng Mùi C nuôi Triệu Tạ C, sinh ngày 08/9/2005 cho đến đủ 18 tuổi. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về chia tài sản:

- Chị Đặng Mùi C được chia:

+ Thửa đất số 33, tờ bản đồ số 200, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 044973 mang tên Triệu Chòi L và Đặng Mùi C, bốn hướng tiếp giáp với đất rừng.

+ Một phần hai giá trị ngôi nhà gỗ với số tiền 14.637.805 đ (Mười bốn triệu sáu trăm ba mươi bảy nghìn tám trăm linh năm đồng).

+ Một phần hai giá trị chiếc máy cày với số tiền 2.437.000 đ (Hai triệu bốn trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

+ Một con bò đực màu nâu sẫm, 04 tuổi và một con bò cái màu vàng đậm 02 tuổi chưa có sừng, tổng giá trị hai con bò là 18.000.000 đ (Mười tám triệu đồng).

- Anh Triệu Chòi L được chia:

+ Một thửa ruộng gần nhà anh L tại xóm N, xã C1, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, ruộng khai hoang trên đất rừng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vị trí thửa ruộng như sau: Ba hướng tiếp giáp với đất rừng, hướng từ khe suối lên giáp với ruộng của ông Triệu Chòi Sơn.

+ Một ngôi nhà gỗ tại xóm N, xã C1, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.

+ Một chiếc máy cày.

+ Một con bò cái màu vàng đậm, 14 tuổi, bị gãy một sừng trị giá 8.000.000,đ (Tám triệu đồng).

Sau khi đối trừ giá trị chênh lệch tài sản, anh L phải thanh toán cho chị C tổng số tiền 12.074.805,đ (Mười hai triệu không trăm bảy mươi tư nghìn tám trăm linh năm đồng).

- Bà Lý Mùi N2 được chia 01 con bê cái màu vàng đậm dưới một tuổi, giá trị 2.000.000,đ (Hai triệu đồng).

4. Về tài sản riêng:

Buộc anh Triệu Chòi L phải trả cho chị Đặng Mùi C một bộ dây bạc.

5. Về thanh toán nợ:

Bà Triệu Mùi N2 có trách nhiệm trả cho chị C số tiền 25.000.000,đ (Hai mươi lăm triệu đồng).

Anh Triệu Chòi L có trách nhiệm thanh toán cho chị C số tiền 12.500.000,đ (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Chị C có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng C2 số nợ gốc 50.000.000,đ (Năm mươi triệu đồng) và tiền lãi phát sinh trên nợ gốc.

7. TẢI MẪU ĐƠN KHỞI KIỆN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH TẠI ĐÂY

8. THAM KHẢO BÀI VIẾT LUẬT SƯ TRANH TỤNG TẠI TÒA ÁN CÁC CẤP

9. LIÊN HỆ LUẬT SƯ TƯ VẤN MIỄN PHÍ THỦ TỤC KHỞI KIỆN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH

Luật sư: Nguyễn Thành Tựu

Điện thoại: 09.19.19.59.39

Email: tuulawyer@nvcs.vn

 

Luat-su-tu-van-nguyen-thanh-tuu

                                       luat-su-nguyen-thanh-tuu

 

*Các dịch vụ luật tại Công ty luật TNHH Quốc tế Nguyễn và Cộng sự:

  • Tham gia trực tiếp phiên tòa với tư cách là luật sư bào chữa cho khách hàng của mình (có thể là nguyên đơn, bị đơn hay người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan,…)
  • Đăng ký bảo hộ các đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam bao gồm: nhãn hiệu, sáng chế, giống cây trồng, chỉ dẫn địa lý,..
  • Hỗ trợ khách hàng nghiên cứu, tìm kiếm, phát hiện ra hành vi mà quyền sở hữu trí tuệ của họ bị xâm phạm đồng thời cũng đưa ra được những giải pháp thỏa đáng nhằm hạn chế tối đa thiệt hại mà khách hàng phải gánh chịu.
  • Giải quyết những vấn đề pháp lý về thương mại; doanh nghiệp; mua bán, thế chấp, chuyển nhượng, tranh chấp đất đai; các vấn đề tranh chấp sau khi ly hôn hay cả những vấn đề về thừa kế, hợp đồng và liên quan đến tranh chấp trong quá trình hoạt động giữa người lao động và người sử dụng lao động,…
  • Đặc biệt tại NVCS là nơi chuyên cung cấp hay gia hạn Visa cho các khách hàng đến từ nhiều quốc gia khác nhau như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Anh, Pháp, Mỹ, Thụy Điển,…

Quý khách vui lòng xem VIDEO hướng dẫn chi tiết về thủ tục ly hôn ở đây



 

LIÊN HỆ

Hotline: 0916.303.656 (Gọi​ ngay đ​ể​ đ​ư​ợc​ tư​ vấ​n miễn​ phí)

Email: luatsu@nvcs.vn 

Website: https://nvcs.vn/

0916.303.656

ĐĂNG KÝ NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TẠI ĐÂY
DỊCH VỤ LIÊN QUAN
Tại sao cần phải chỉ định luật sư bào chữa?

Tại sao cần phải chỉ định luật sư bào chữa?

Hiện nay, tố tụng hình sự có những mục đích nhân đạo riêng như bắt buộc chỉ định luật sư bào chữa trong các trường hợp nhất định. Hãy cùng Công ty Luật NVCS tìm hiểu chi tiết về vấn đề này thông qua bài viết sau nhé!
Các trường hợp nào phải có luật sư bào chữa theo quy định pháp luật?

Các trường hợp nào phải có luật sư bào chữa theo quy định pháp luật?

Luật sư bào chữa là người có kiến ​​thức khoa học về lĩnh vực pháp luật, có kiến ​​thức pháp luật, có khả năng hiểu và nắm rõ các quy định của pháp luật.
Các tiêu chí chọn luật sư tranh tụng cho vụ kiện ở trọng tài

Các tiêu chí chọn luật sư tranh tụng cho vụ kiện ở trọng tài

Hiện nay phương thức trọng tài thương mại rất được nhiều doanh nghiệp, tổ chức ngày càng được quan tâm vì tính tiện lợi cũng như công nghệ hoá đất nước. Hãy cùng Luật NVCS tìm hiểu các tiêu chí này thông qua tìm nhé.
Vai trò của luật sư tranh tụng thương mại tại thị trường Việt Nam

Vai trò của luật sư tranh tụng thương mại tại thị trường Việt Nam

Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và thương mại quốc tế ngày càng mở rộng của Việt Nam đã khiến nơi đây trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các công ty từ khắp nơi trên thế giới.
Quy định về uỷ quyền cho luật sư tranh tụng trong vụ án dân sự

Quy định về uỷ quyền cho luật sư tranh tụng trong vụ án dân sự

Luật sư tranh tụng trong vụ án dân sự ngày càng được các cá nhân, pháp nhân lựa chọn giải quyết các tranh chấp trong nhiều lĩnh vực như hôn nhân gia đình, tranh chấp tài sản, doanh nghiệp, thương mại
Quy định uỷ quyền cho luật sư tranh tụng trong vụ án hình sự

Quy định uỷ quyền cho luật sư tranh tụng trong vụ án hình sự

Trong các vụ án hình sự, vai trò của luật sư bào chữa và luật sư tranh tụng là vô cùng quan trọng trong việc khám phá sự thật và bảo vệ quyền con người
KHÁCH HÀNG TIÊU BIỂU
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Để lại địa chỉ email của bạn để nhận những tin tức cập nhật về luật mới nhất

Chat với chúng tôi qua Zalo
Gọi ngay cho chúng tôi